Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người con của quê hương núi Ấn sông Trà

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người con của quê hương núi Ấn sông Trà
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người con của quê hương núi Ấn sông Trà, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên cường nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà giáo dục, nhà văn hóa lớn của dân tộc, nhà ngoại giao tài giỏi và có uy tín trên thế giới. Một người con rất mực trung thành, suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Năm nào cũng vậy, trong cái se lạnh của mùa xuân, từng dòng người  lại tìm về ngôi nhà nhỏ ở xóm Cây Gạo, xã Đức Tân (Mộ Đức), ngày trước thuộc làng Thi Phổ Nhất. Nơi đây là một miền quê yên ả, bốn bề ruộng lúa xanh ngát, gió reo rì rào.


Cái làng quê mộc mạc ấy đã sinh ra một con người tài hoa, làm rạng danh quê hương, đất nước. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của ông luôn gắn chặt với vận mệnh của non sông đất nước, của dân tộc Việt Nam. Đó chính là  Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người con của quê hương núi Ấn sông Trà, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên cường nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, nhà giáo dục, nhà văn hóa lớn của dân tộc, nhà ngoại giao tài giỏi và có uy tín trên thế giới. Một  người con rất mực trung thành, suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng sinh ngày 01/3/1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Trong thời gian theo học ở Trường Quốc học Huế, ông đã có những hoạt động yêu nước từ rất sớm. Và trong những năm 1925 - 1926, khi học tại Trường Bưởi (Hà Nội), ông đã tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp ân xá cụ Phan Bội Châu để tang Phan Châu trinh...Và cũng trong những biến động của lịch sử  đầu thế kỷ XX, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, đã biết đến Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như: báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”…Là một trong những cán bộ tiền bối, được Bác Hồ trực tiếp giáo dục và rèn luyện, đồng chí  đã trở thành người học trò xuất sắc, một cộng sự gần gũi và thân  thiết của Bác Hồ. Và  trong suốt 15 năm đầu đi theo con đường cách mạng (1926-1940), lúc bị bắt, bị giam cầm tại ngục tù Côn Đảo cũng như lúc hoạt động bất hợp pháp, bán hợp pháp, hay hợp pháp, công khai, đồng chí luôn vượt qua mọi khó khăn, gian nguy, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho cách mạng với niềm tin tất  thắng.

Trong những năm hoạt động cách mạng, đặc biệt là từ sau khi cách mạng tháng Tám thành công  năm 1945 đến năm 1987, đồng chí được giao nhiều trọng trách trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc :
+1946Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau (Pháp).
+ Năm 1954, với cương vị Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Genève về Đông Dương, trong tư thế của một dân tộc chiến thắng đã buộc các nước  thừa nhận, tôn trọng, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vện lãnh thổ  của  Việt Nam, kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kì.
+ Tháng 9 năm 1954,  đồng chí  kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại TW Đảng.
+ Từ tháng 9 năm 1955, đồng chí là Thủ tướng Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ năm 1976 là Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng cho đến khi về hưu năm 1987. Và mặc dù đã nghỉ hưu nhưng đồng chí vẫn có nhiều đóng góp cho dân cho nước trên cương vị là cố vấn Ban chấp hành Trung ương cho đến khi rời xa cõi trần.

 
Kính thưa quý thầy giáo cô giáo , cùng toàn thể các em học sinh

Với 94 tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, cuộc đời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một tấm gương sáng về đức độ, tài năng, ý chí và nghị lực cách mạng. Trên cương vị nào ông cũng làm việc hết mình và để lại những dấu ấn sâu sắc. Thủ tướng là một nhà chính trị tài ba, nhà lý luận xuất sắc, nhà ngoại giao nhiều kinh nghiệm, nhà văn hóa lớn của đất nước, được đồng chí, đồng bào và bạn bè quốc tế tin yêu, kính trọng. Nhưng trên hết cả Ông còn là  “Cậu Tám”, “Anh Tô”, “Bác Đồng” trong lòng đồng chí đồng bào cả nước nói chung và quê hương núi Ấn Sông Trà nói riêng.

Vẫn còn đó hình ảnh Bác Đồng, với bộ quần áo kaki bạc màu, chiếc mũ cát lấm lem bùn đất, khuôn mặt gầy đen, khắc khổ, nhìn  mặt nước ven đê sông Hồng đang dâng trong nỗi lo lắng tột độ của người nhận trách nhiệm sống còn trước Đảng, trước nhân dân trong những năm 70 của thế kỷ trước. Làm sao quên khi Ông đến với Quảng Bình, Vĩnh Linh trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Ở đó, nơi mà những em bé cũng phải sống chung với bom đạn trong những chiếc nôi tre, dưới hầm địa đạo. Lúc này, không ai nghĩ tới cương vị ông là một nhà lãnh đạo, mà nghĩ tới hình ảnh một người cha, một người ông, về với cháu, về với gia đình trong cơn hoạn nạn.

Thăm một bệnh viện ở Quảng Bình, đứng trước tủ thuốc nghèo nàn của dân, là Thủ tướng của một nước, ông thật đau lòng! Giặc đánh vào Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai bị bom huỷ diệt, ông đứng hàng giờ với các bác sĩ để cùng tìm cách khắc phục hậu quả, để lo cho dân có nơi chữa bệnh.

Nhưng vẫn đau đáu trong ông là được trở về thăm quê, được đứng trước những cồn cát của biển miền Trung, đi trong hương mạ non phảng phất trên con đường làng dẫn vào ngôi nhà mà ngày xưa “cậu Tám” từng ở, vẫn còn đó giếng nước thuở xưa, hàng rào râm bụt hoa nở rộ mỗi khi hè về, được sống trong không khí ấm áp của con người xứ Quảng…


Thưa quý thầy giáo cô giáo cùng các em học sinh!
Sinh thời dù trên cương vị nào, dù bận trăm công ngìn việc nhưng Bác Đồng vẫn luôn dành sự quan tâm lớn lao cho sự nghiệp giáo dục. Người  hiệu trưởng, thầy giáo danh dự của trường trung học bình dân Quảng Ngãi với bài học đầu tiên “trung với nước hiếu với dân cũng là người  đặt vấn đề xây dựng môn “Đạo đức học” để rồi môn này phải trở thành một ngành khoa học xã hội, một môn học không thể thiếu trong các bậc học. Và cũng là Bác Đồng đã tôn vinh nghề dạy học là “Nghề sáng tạo nhất, vì nó sáng tạo những con người sáng tạo”. Người động viên thế hệ trẻ: “Các bạn hãy học tập để thành người và để làm người”.

Các em học sinh thân mến! Dù Bác Đồng đã đi xa nhưng khắc ghi lời dạy của Bác, là con em của quê hương núi Ấn sông Trà vinh dự của thầy và trò chúng ta thật lớn lao nhưng trách nhiệm cũng thật nặng nề. Tuy nhiên với truyền thống vốn có, niềm tin mãnh liệt chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thi đua dạy tốt học tốt, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xứng đáng là con em trên quê hương cách mạng của một dân tộc anh hùng.

 

Tác giả bài viết: Lưu Thị Nga

Nguồn tin: Trường THPT số 1 Tư Nghĩa